Nguyên tắc ăn uống cho phụ nữ mang thai và khi cho con bú

Nguyên tắc ăn uống cho phụ nữ mang thai và cho con bú cần đảm bảo đầy đủ các dưỡng chất quan trọng sau

Nguyên tắc ăn uống cho phụ nữ mang thai và khi cho con bú

Xem thêm:

Chất đạm

Bà bầu trước khi mang thai nếu có chế độ dinh dưỡng tốt, ở thời kỳ đầu của thai kỳ, không cần đặc biệt tăng thêm việc ăn chất đạm.

Giai đoạn ba tháng giữa của thai kỳ do tốc độ tăng trưởng của thai nhi nhanh hơn, nhau thai, tử cung và bầu vú của người mẹ trở nên lớn hơn, lượng nước ối và huyết dịch cũng tăng, mỗi ngày bà bầu cần phải tăng thêm 10 gram chất đạm.

Trong các nguồn chất đạm thì có trên một nửa là đạm giá trị sinh vật cao (High Biological Value, HBV) như: trứng, sản phẩm sữa, thịt, cá và sản phẩm đậu nành như sữa đậu nành, đậu phụ, đậu khô v..v.

Thời kỳ cho con bú, mỗi ngày lượng sữa mẹ tiết ra bình quân đạt tới 850 ml, do nước sữa mẹ chứa 1,1% chất đạm, sữa mẹ cung cấp cho trẻ chất đạm có khoảng 10 gram, cho nên các bà mẹ cho con bú mỗi ngày nên ăn thêm 15 gram chất đạm, trong đó một nửa là chất đạm giá trị sinh vật cao

Khoáng chất

Can-xi

Trong thời kỳ mang thai và cho con bú nên ăn đủ chất can-xi, để đáp ứng được sự tăng trưởng của thai nhi/ trẻ sơ sinh và nhu cầu của cơ thể người mẹ.

Các thức ăn giàu chất can-xi, như: các sản phẩm sữa, cá khô nhỏ v..v.

Sắt

Khi mang thai nhu cầu về lượng chất sắt tăng lên, ngoài việc cung cấp cho nhu cầu của thai phụ và thai nhi ra, đồng thời một lượng lớn được lưu giữ trong cơ thể thai nhi, để cung cấp cho trẻ sơ sinh sau khi sinh ra đời nội trong 4 tháng sử dụng.

Các thức ăn giàu chất sắt, như: lòng đỏ trứng, gan, thịt đỏ, cật, huyết heo, huyết vịt, và huyết gà v…v. Lượng chất sắt mà người dân trong nước ăn vào mỗi ngày, thường không đủ để bù đắp cho sự mất máu của người phụ nữ khi mang thai, sinh nở và khi tiết sữa mẹ cần đến.

Đề nghị từ thời kỳ thứ ba của thai kỳ đến sau khi sinh nở trong vòng 2 tháng, mỗi ngày cần phải nạp chất sắt vào cơ thể bằng 30 milligram muối sắt.

I-ốt

Thai nhi tăng trưởng và phát triển nhanh chóng, khiến cho tỷ lệ bài tiết cơ bản của thai phụ cùng theo đó mà tăng lên, đồng thời lượng dịch tiết ra của tuyến giáp trạng cũng tăng cao, và chất i-ốt là chất tạo thành tố tuyến giáp trạng (thyroxine), vì vậy nên phải tăng lượng i-ốt nạp vào.

Các thức ăn giàu chất i-ốt, như: tảo biển, rong biển v..v.

Natri

Trong thời gian mang thai nếu có tình trạng huyết áp cao hoặc bị phù, thì nên hạn chế lượng natri nạp vào cơ thể.

Magiê

Trong thời gian mang thai lượng magiê nạp vào cơ thể tăng lên, có thể giảm bớt triệu chứng tiền sản giật và tỷ lệ phát sinh việc thai nhi phát triển không toàn diện trong tử cung.

Sở nghiên cứu Y học của Mỵ (IOM) định ra trong thời gian mang thai ngoài nguồn thức ăn và thức uống ra, thì uống lượng thuốc bổ sung với lượng cao nhất là 350 milligram/ngày. Lượng magiê cần thiết là tùy theo mức tăng lên của nhiệt lượng và chất đạm mà tăng cao, như: chủ yếu có trong men, ngũ cốc, gan động vật.

Kẽm

Trong thức ăn của người phụ nữ mang thai và cho con bú thiếu chất kẽm, đồng thời sẽ không dẫn đến việc lượng kẽm trong xương chuyển dịch đi, vì vậy mà dễ tạo ra tình trạng dinh dưỡng kẽm quá thấp, và thuốc chứa chất sắt bổ sung cũng sẽ kìm chế sự hấp thụ kẽm, vì vậy lượng kẽm nạp vào cơ thể nên phải cần được chú ý.

Nên khuyến khích phụ nữ mang thai và cho con bú ăn những thức ăn có chứa lượng chất kẽm cao, ví dụ như: lòng đỏ trứng, các sản phẩm sữa, các loại đậu, các loại hạt, thịt nạt, các loại hải sản, tảo biển, cà tím.

Những chất khác

Lượng khoáng chất nạp vào cơ thể nên đạt tới lượng dinh dưỡng tham khảo mà nhân dân ta nạp vào cơ thể, đồng thời không vượt quá lượng nạp vào theo hạn định.

Vitamin

Trong thời gian mang thai và cho con bú đa phần nhu cầu về lượng vitamin đều tăng lên.

Lượng vitamin B1, B2, B6 và Niacin cần thiết là tùy theo mức tăng lên của nhiệt lượng và chất đạm mà tăng cao, như: chủ yếu có trong men, ngũ cốc, gan động vật.

Vitamin B12: đối với người ăn chay tu, nên đặc biệt chú ý bổ sung vitamin B12. Các loại thức ăn giàu vitamin B12, như: các loại đậu lên men hoặc các loại thuốc bổ vitamin B12.

Những loại khác: khi nạp lượng vitamin vào cơ thể , lượng dinh dưỡng nên tham khảo theo chế độ ăn của người dân để nạp, đồng thời không nên vượt quá lượng nạp vào theo hạn định.

Chọn lựa thức ăn phải cân bằng.

Mang thai không nên ăn gì

  1. Thuốc lá, rượu, cà phê và trà đậm đặc.
  2. Các thức ăn chứa nhiều chất béo như: thịt mỡ, các thức ăn chiên rán v..v..
  3. Các loại thức ăn đã qua chế biến xông khói, như thịt xông khói, hột vịt muối, thịt giăm bông, chao v..v.
  4. Các loại thức ăn uống có nhiệt lượng cao, như: kẹo, cô ca, nước ngọt v..v.

Trong kỳ đầu mang thai nếu có hiện tượng buồn nôn, ói mửa, nên chia ra nhiều bữa để ăn với lượng nhỏ và chọn loại thức ăn ít chất béo và không có tính kích thích, buổi sáng khi thức dậy, có thể ăn một ít thức ăn ngũ cốc, như bánh tây, bánh màn thầu v..v. để cải thiện việc buồn nôn. Thời kỳ cuối của thai kỳ, thì tránh nạp vào cơ thể quá nhiều các thức ăn uống có nhiều chất carbohydrate và chất béo, khiến cho chất béo trong cơ thể gia tăng.

Trường hợp lượng thuốc, cách dùng thuốc với các loại thuốc bắc không rõ nguồn gốc và chưa qua sự xác định của bác sĩ đông y hợp pháp, thì nên tránh không sử dụng.

Mỗi ngày nên vận động đúng mức, đồng thời nên chú ý các hạng mục an toàn đến việc tập luyện có liên quan.


Nguyên tắc ăn uống cho phụ nữ mang thai và khi cho con bú

Ý kiến của bạn